Đuổi theo những huyền thoại trên đảo Phục Sinh

10/09/2018

Tôi đáp chuyến bay kéo dài hơn 4 tiếng từ thủ đô Santiago de Chile, nước cộng hòa Chile tới đảo Phục Sinh trong cái gió bay người và thời tiết lành lạnh của mùa đông trên đảo

Bầu trời mùa này, mây đen vần vũ thi thoảng ló ra tia nắng mặt trời, rồi ngay sau đó là cơn mưa bất chợt, kết thúc bằng cầu vồng tuyệt đẹp xa xa nơi lấp ló các tượng moai khổng lồ

Gần như mọi hoạt động văn minh trên đảo đều tập trung ở Hanga Roa, thị trấn nhỏ nép mình dọc bờ biển tập trung hơn 95% dân cư sinh sống. Tuy nhiên, phần lớn trong số đó là người từ lục địa tới làm du lịch, hơn 600 dân bản địa ít ỏi chủ yếu sống trong trung tâm đảo, sinh sống bằng nông nghiệp. Buổi tối tại thị trấn khá buồn, chỉ có duy nhất 1 quán bar được phép mở tới nửa đêm. Ăn uống khả dĩ nhất nên chọn các món liên quan đến cá ngừ, hoặc thực tế hơn thì mang theo thực phẩm, vì chi phí trên đảo rất đắt đỏ.

Suốt gần một tuần, tôi rong ruổi khắp mọi ngóc ngách của hơn 160 cây số vuông. Không điện thoại, không vướng bận đến mưu sinh thường nhật, chỉ đắm mình tận hưởng vẻ đẹp siêu thực, lắng nghe những câu chuyện huyền ảo về những bức tượng moai khổng lồ, thần tích về người chim, các nghi lễ cổ xưa và hàng trăm mẩu chuyện không đầu không cuối khác.

Ahu Tongariki, chốn khải huyền

Những người đầu tiên có mặt tại khu thánh lễ này thốt lên như vậy cũng một ngày tháng 6 năm 1960, sau trận động đất và sóng thần mạnh nhất trong lịch sử loài người ghi nhận được, 9,5 độ richter, kéo những pho tượng moai nặng trung bình 40 tấn, cao từ 5,6 – 8,7 m trôi dạt vào tận gần Rano Raraku cách đó hàng cây số. Sau đó, những người Nhật Bản đã giúp cư dân đảo phục dựng lại khu hành lễ. Dãy tượng moai nổi tiếng giờ đây xuất hiện trên các postcards du lịch chỉ là một phần của khoảng 30 bức tượng gốc được mài đẽo trong suốt 700 năm. Cho đến nay, phần lớn đều cho rằng Tongariki là trung tâm văn hóa chính trị và tôn giáo của bộ lạc Hotu Iti, một trong 2 bộ lạc chính trên đảo trong quá khứ.

Tôi tới Tongariki trong đêm, thả cửa ngắm nhìn ánh trăng bàng bạc tỏa bóng xuống 15 pho cự thạch, mà không thôi tự hỏi những con người dã man từ nhiều thế kỷ trước bằng cách nào có thể di chuyển từng ấy bức tượng tới bãi biển và đặt ngay ngắn đến vậy? Có điều những miên man ấy biến mất ngay khi ánh mặt trời từ từ ló dạng phía chân trời, đổ bóng sau lưng từng bức tượng khổng lồ. Một kỳ quan không dễ gì được chứng kiến lần thứ hai trong đời.

Rano Raraku, “xưởng sản xuất” moai

Cách Tongariki khoảng chừng 1 cây số, xưởng đá Rano Raraku nằm thấp thoáng trên triền đồi mà xa xưa là miệng một ngọn núi lửa. Nhiều thế kỷ trước, những người thợ đúc lành nghề với tín ngưỡng và niềm tôn kính tổ tiên đã tạo ra gần 1000 tượng moai các loại, 397 cự thạch trong số đó hiện vẫn còn nằm rải rác tại đây. Ngay lối vào là Piro Piro, tượng moai cao 4 mét từ lâu đã trở thành biểu tượng khi người ta nhắc đến đảo Phục Sinh. Xa xa chừng hơn trăm mét nữa là hai moai Hinariru như cặp anh em song sinh nghiêng đầu nghĩ ngợi. Rồi cả Te Tokanga, người khổng lồ to ngang một chiếc máy bay thương mại, vẫn nằm im lìm trong vách núi chưa một ngày được dựng lên.

Anh bạn đồng hành Nicolas, vốn là một nhà nhân chủng học, miệt mài trả lời những thắc mắc dường như không có điểm dừng của tôi. Anh nói rằng những người thợ đá đã cần mẫn làm việc trong hơn 500 năm để tạo ra từng ấy tuyệt tác. Thậm chí người ta còn ghi nhận cuộc thi giữa những người thợ lành nghề của các bộ lạc, xem ai tạc nhanh, tạc khéo hơn. Cũng nhờ vào nguồn tài nguyên sẵn có vào thời đại “hoàng kim” này mà dân đảo không phải lo nhiều đến miếng ăn, toàn tâm toàn ý vào các tác phẩm để đời của họ.

Tại sao mà đột nhiên những công trình sư này dừng búa, để lại ngổn ngang các moai nằm trơ trọi giữa mây trời, đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi? Truyền thuyết trên đảo nói rằng một lão phù thủy tức giận vì một ngày nọ các công nhân không để dành miếng tôm hùm, đã phá hủy cả công trường. Thực tế hơn, trong một số ghi chép bằng kí tự cổ kể lại rằng: bộ tộc Hanau Momoko bao gồm đa phần là các thợ điêu khắc, đã nổi dậy và giết chết những kẻ đàn áp Hanau E’epe, từ đó họ không bao giờ quay trở lại đúc tượng nữa. Tuy nhiên, giả thuyết được thừa nhận rộng rãi nhất lý giải do sự cạn kiệt tài nguyên, các bộ lạc gây chiến với nhau, kéo tất cả vào cuộc xung đột man di và niềm tin vào “những người bảo vệ moai” vì thế bị suy giảm.

Orongo và thần tích về người chim

Orongo là một trong ba miệng núi lửa đã tắt trên đảo. Sau khi niềm tin về moai dần suy tàn, các bộ lạc tụ tập tại Orongo vào mùa xuân, cử ra trai tráng khỏe mạnh, dũng cảm nhất đại diện cho bộ lạc mình. Vào một ngày ấn định, họ cùng chạy xuống miệng núi lửa, theo dấu con chim manutara, tìm cho được quả trứng đầu tiên mang lên bờ để trở thành “người chim” – hiện thân cho người coi giữ an toàn của hòn đảo.

Khác với phần lớn các ngôi nhà cổ xưa lợp rơm rạ, các công trình kiến trúc tại Orongo được làm bằng đá cực kỳ kiên cố, nhằm chống chọi lại sức gió mạnh kinh người tại đỉnh núi. Xen kẽ vào đó là rất nhiều tác phẩm điêu khắc trên đá, ghi lại nhiều cảnh sinh hoạt tâm linh gắn liền với huyền sử về người chim. Bất giác, tôi thấy có những nét tương đồng kì lạ giữa địa điểm này và Machu Picchu ở Peru, dù hai nơi rõ ràng khác nhau về niên đại cũng như xa xôi về địa lý.

Bạn tôi Nicolas chỉ tiếc không được chiêm ngưỡng tượng moai Hoa Hakanani´a hiện nằm ở bảo tàng London, vốn là cự thạch duy nhất làm bằng đá bazan, cũng là bước chuyển về điêu khắc giữa hai thời đại tín ngưỡng. Thời đó, cũng thường vào mùa xuân, người dân đảo thấy xa xa những chiếc thuyền buồm chở theo đoàn người da trắng lạ lẫm cập vào đảo. Họ coi đây là các sứ giả của thần chim mang đến điềm lành, nào ngờ đâu đây chính là mầm mống tai họa khôn lường của nạn diệt chủng hay bệnh dịch hạch về sau.

Những hang động kỳ bí

Chắc hẳn nếu có đủ thời gian để khám phá hết đảo Phục Sinh, du khách không thể nào bỏ qua khám phá nhiều hang động nằm ẩn khuất ven bờ biển. Đa phần lối vào chỉ đủ cho một thân người lách qua, tuy nhiên càng xuống sâu, diện tích hang càng mở ra và kết thúc bằng một khe vực thẳm hun hút nhìn ra biển.

Nổi tiếng nhất trong số đó là câu chuyện tình buồn gắn với hang Ana Kakenga. Người xưa kể lại rằng một đôi tình nhân trẻ do tình yêu bị ngăn cấm, đã rủ nhau bỏ trốn vào trong hang và lấp miệng hang lại nhằm tránh bị truy đuổi. Không rõ họ đã tuyệt thực hay gieo mình xuống dưới đại dương bao la, nhưng khi vào hang tôi nghe thấy rõ tiếng gió rin rít đập vào những phiến đá kì quái, tạo ra âm thanh thật sầu thảm.

Hay như câu chuyện gắn liền với tập tục ăn thịt tù binh của bộ tộc Tangata Manu sau mỗi trận chiến ở hang Ana Kai Tangata. Đau buồn hơn, một số nhà sử học lý giải tập tục này lại liên quan đến… người châu Âu. Vào thế kỷ XVI, thực dân Hà Lan kéo tới đảo mang theo chuột từ trên đất liền. Những “cư dân mới” này nhanh chóng phá hại hoa màu, sinh sôi nảy nở theo cấp số nhân do trước đó trên đảo không hề có chuột, nên cũng không có loài nào là thiên địch cả. Sự cạn kiệt thức ăn dẫn tới việc con người phải ăn thịt đồng loại để sinh tồn.

Bãi biển đẹp như tranh

Thật là thiếu sót khi nghĩ rằng ở đảo Phục Sinh chỉ toàn tượng là tượng. Phía Bắc của đảo có hai bãi biển êm đềm cũng là một điểm đến đầy thú vị cho khách du lịch. Ovalhe với bãi cát hồng thường được nhiều du khách thích sự yên tĩnh tìm đến. Trong khi đó, Anakena có vẻ nổi tiếng hơn, do có hàng moai Aku Nau Nau với những chiếc mũ pukao ngộ nghĩnh. Đây cũng là các tượng moai được bảo tồn nguyên vẹn nhất trên đảo, nhìn hướng ra một con đồi dừa xanh ngắt. Tôi dành trọn cả một buổi chiều để tắm biển, lặn sâu xuống bờ vịnh ngắm nhìn những rặng san hô sặc sỡ. Thú thực là sau đó, được ngồi nhâm nhi một ly piña colada ngắm ánh chiều tà dần khuất sau 7 bức tượng moai quả là một lạc thú khó quên.

Ngựa hoang ở khắp nơi

Tới đảo Phục Sinh, mọi người đều phải thốt lên rằng, ngựa ở đâu cũng có. Đa phần chúng là ngựa hoang, thẩn thơ gặm cỏ giữa những cánh đồng hoa vàng, tại bãi biển Anakena rợp bóng dừa hay ngay dưới chân những bức tượng moai nhuốm màu thời gian. Dù ở đâu, ngựa là giống loài duy nhất có đặc quyền lại gần các tấm cự thạch. Vì lý do bảo tồn, du khách chỉ được ngắm nhìn các cổ vật ở khoảng cách nhất định. Thậm chí, một viên đá nhỏ làm kỉ niệm cũng không được phép mang đi khỏi đảo.

Thứ mà khách du lịch nên mang lại đất liền, ngoài những bức ảnh đẹp và kỉ niệm khó quên, chính là tự mình mang rác đi, bởi từ nhiều năm nay, chính quyền đã phải mang chất thải từ đảo về lục địa để xử lý.

Năm ngày lang thang trên đảo, khám phá bao câu chuyện trong những trang sách từ thuở ấu thơ, với tôi là một trải nghiệm khó quên và không thể tin được. Trên chuyến bay trở về đất liền, tôi nhớ mãi nụ cười hạnh phúc của Galicia - một người bạn cũ từ khi còn ở đất liền. Cũng từ một chuyến du lịch như thế này, cô ấy đã chọn ở lại và làm việc trên đảo. Galicia đã chọn một cuộc sống gần như tự cung tự cấp như con người của bao thế kỷ trước, đổi lấy sự tự do cùng thiên nhiên và sống với những huyền sử sẽ chẳng bao giờ được hé lộ nơi hòn đảo thiên đường này.

Bài và ảnh: Vũ Việt Thanh

 

Bình luận

Bạn nghĩ gì về bài viết này ?(0 bình luận)

Bạn cần đăng nhập để có thể bình luận

Có 0 thành viên đã bình luận